facebook

CREATION IS BOURDARLESS

Đăng ký bảo hộ thương hiệu - Nhãn hiệu
Bản quyền tác giả - Sáng chế - Kiểu dáng - Logo
Tư vấn Quản trị tài sản trí tuệ - Hotline : 0906 316 450

brand-register
Chuyên mục
Tin tức

Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp

(Khoa học) – Doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay thương mại dù ít hay nhiều đều liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Trước tiên là tên thương mại (theo Luật doanh nghiệp còn được hiểu là tên doanh nghiệp đăng ký kinh doanh) được hình thành và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp khi doanh nghiệp sử dụng tên của mình vào sản xuất kinh doanh mà không cần đăng ký theo cơ chế sở hữu trí tuệ.

Tiếp đến là bí mật kinh doanh (bí quyết kỹ thuật và bí mật thương mại) hầu như doanh nghiệp nào cũng có, vấn đề là các thông tin đó có được bảo mật bằng các biện pháp hữu hiệu hay không để được hưởng quyền sở hữu công nghiệp theo Luật Sở hữu trí tuệ. Còn lại các đối tượng khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thì doanh nghiệp phải đăng ký với Nhà nước thì mới được bảo hộ.

Rõ ràng việc đầu tư để tạo dựng, đăng ký, sử dụng, phát triển và bảo vệ các tài sản trí tuệ (còn được gọi là quản trị) là hết sức cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, nhất là khi các tài sản trí tuệ ngày càng trở lên quan trọng đối với mỗi nền kinh tế và doanh nghiệp trong xu thế hội nhập sâu rộng như hiện nay. Vấn đề đặt ra là, việc quản trị các tài sản trí tuệ được thực hiện như thế nào, làm cách nào để có hiệu quả nhất giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là những nội dung mà doanh nghiệp cần lưu  tâm.

Việc đầu tiên của quản trị tài sản trí tuệ mà doanh nghiệp cần làm, đó là thống kê, đánh giá và phân loại các tài sản trí tuệ hiện có trong doanh nghiệp. Việc thống kế các tài sản trí tuệ cần được thực hiện dựa theo bản chất (nội hàm) và quy định của pháp luật đối với từng đối tượng.

Nếu tài sản trí tuệ là các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp thì có thể thuộc một trong hai loại sau: loại thứ nhất gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác lập không cần đăng ký, như tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng; loại thứ hai gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp chỉ được xác lập thông qua đăng ký, như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu.

Với tên thương mại và bí mật kinh doanh thì doanh nghiệp phải xem xét hiện trạng pháp lý của các đối tượng đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ không.

Cụ thể là, xem các tên thương mại hiện có của doanh nghiệp có đáp ứng được tính phân biệt giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực và địa bàn kinh doanh và đã được sử dụng trên thực tế chưa. Khi thỏa mãn hai điều kiện trên đây thì tên thương mại của doanh nghiệp sẽ được Nhà nước bảo hộ.

Còn với bí mật kinh doanh thì xem các thông tin liên quan đến bí quyết kỹ thuật (các know-how) hay bí mật về thương mại (phương án sản xuất, kinh doanh, danh sách khách hàng…) hiện có của doanh nghiệp có được bảo mật không. Nếu các thông tin đó đã và đang được doanh nghiệp bảo mật thì sẽ được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Với các đối tượng sở hữu công nghiệp quyền được xác lập thông qua đăng ký như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…thì doanh nghiệp cần xác định xem thực trạng các đối tượng đó ra sao: Hiện doanh nghiệp có bao nhiêu sáng chế, sáng chế nào đã đăng ký và được cấp Bằng độc quyền, sáng chế nào chưa đăng ký. Tương tự như vậy, cũng xác định xem doanh nghiệp có bao nhiêu nhãn hiệu, bao nhiêu kiểu dáng công nghiệp, cái nào đã đăng ký và cái nào chưa đăng ký.

Tiếp theo việc thống kê, đánh giá các đối tượng, doanh nghiệp cần thực hiện việc đăng ký các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mà doanh nghiệp chưa đăng ký.

Về nguyên tắc, Nhà nước chỉ cấp một văn bằng bảo hộ cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu nào thỏa mãn tiêu chuẩn bảo hộ nhưng nộp đơn sớm nhất (kể cả đơn của người nước ngoài). Vì vậy khi thực hiện đăng ký, doanh nghiệp cần phải đánh giá khả năng bảo hộ từng đối tượng.

Nếu đăng ký sáng chế, thì phải xem các sáng chế đó còn mới không (chưa bộc lộ ở đâu cả), có trình độ sáng tạo không (so với trình độ hiện tại đã biết thì sáng chế đó có bước tiến mới về mặt công nghệ không) và sáng chế có khả năng áp dụng không (tính khả thi).

Với kiểu dáng công nghiệp cũng tương tự như sáng chế. Còn đối với nhãn hiệu, thì có phải là những dấu hiệu (chữ, hình, hay kết hợp cả hai) do doanh nghiệp tự đặt, tự thiết kế ra chứ không phải đi sao chép, đánh cắp của người khác và các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác.

Để đánh giá về tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu, doanh nghiệp có thể thực hiện việc tra cứu các thông tin liên quan tại kho dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ lưu giữ, trên internet… hoặc nhờ các chuyên gia giúp đỡ. Khi các thông tin liên quan có cơ sở khẳng định rằng các đối tượng trên có khả năng bảo hộ cao thì doanh nghiệp hãy tiến hành đăng ký và đăng ký càng nhanh càng tốt để dành ngày sớm nhất (ngày ưu tiên); còn nếu các thông tin cho thấy khả năng đăng ký là bất lợi vì khó lòng được bảo hộ thì không nên đăng ký vì chỉ thêm tốn tiền và mất thời gian mà thôi.

Khi các đối tượng sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp đã được Nhà nước bảo hộ (được cấp bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hay có được tên thương mại, bí mật kinh doanh đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ) thì doanh nghiệp phải tổ chức việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các đối tượng đó nhằm bù đắp những chi phí nghiên cứu,  đăng ký và rồi kiếm lời do cơ chế độc quyền mang lại.

Nếu chỉ đăng ký mà không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả thì việc đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp trở nên vô nghĩa, thậm chí còn lãng phí và tốn kém không đáng có. Việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có thể do chính doanh nghiệp thực hiện hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp khác tiến hành dưới hình thức li xăng (bán quyền sử dụng) nhưng phải thông qua hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng li xăng) để tránh trường hợp người nhận chiếm đoạt luôn đối tượng dẫn đến khó đòi.

Ví dụ về li xăng, chủ sở hữu sáng chế “Lon có khuyên kéo” bán quyền sử dụng (li xăng) cho CocaCola với giá 148.000 bảng Anh/mỗi ngày. Nếu việc sử dụng không có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể tiến hành bán đứt (chuyển giao quyền sở hữu) để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra, như P/S bán 5 triệu USD năm 1986. Tiếp đến, doanh nghiệp cần chủ động và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chống lại những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình, nhằm bảo vệ quyền đối với các tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ.

Để thực hiện các công đoạn nhằm quản trị tốt các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp được phân tích trên đây, doanh nghiệp có thể tự làm trên cơ sở tổ chức bộ phận (chuyên gia) chuyên trách về sở hữu trí tuệ nhằm chủ động quản trị, hoặc thuê các văn phòng luật sư (luật sư) thực hiện quản trị thông qua hợp đồng thuê quản trị tài sản trí tuệ mà nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã triển khai có hiệu quả từ lâu.

Chuyên mục
Tin tức

Quản trị tài sản trí tuệ trong trường đại học, cao đẳng: Thực trạng và giải pháp

Đây là nội dung của buổi Tọa đàm được Sở KH&CN TPHCM tổ chức ngày 16/5. Ông Nguyễn Khắc Thanh – Phó Giám đốc Sở KH&CN TPHCM mong muốn các trường đại học, cao đẳng chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra những ý kiến đóng góp, đề xuất kiến nghị, giải pháp để Sở KH&CN TPHCM làm cơ sở xây dựng những cơ chế, chính sách thúc nhằm đẩy hoạt động quản trị tài sản trí tuệ có hiệu quả hơn.

Trường đại học, cao đẳng là nơi sử dụng nhiều đối tượng SHTT, cũng là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động sáng tạo, kinh doanh. Nhưng PGS.TS. Lê Thị Nam Giang – Giám đốc Trung tâm SHTT Trường ĐH Luật TPHCM cho biết, hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng chưa xây dựng được bộ phận, cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ. Vì vậy công tác tư vấn cho nhà trường và các nhà khoa học trong việc xác định các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể được bảo hộ đối với kết quả nghiên cứu chưa được thực hiện tốt. Ngoài ra, nhiều giảng viên chưa được trang bị tốt kiến thức về sở hữu trí tuệ dẫn đến hệ lụy là nhiều tài sản trí tuệ chưa được xác lập quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa có được phương án tối ưu trong xác lập quyền. số lượng tài sản trí tuệ được xác lập quyền từ hoạt động nghiên cứu hiện nay ở các trường đại học chưa tương xứng với kết quả nghiên cứu, tiềm năng của trường, việc khai thác thương mại từ quyền sở hữu trí tuệ chưa cao, vấn đề quản trị tài sản trí tuệ chưa được coi trọng ở các trường đại học.

Theo bà Giang, mỗi một trường đại học, cao đẳng có thể thành lập Trung tâm sở hữu trí tuệ, bộ phận chuyên trách hoặc các bộ chuyên trách về lĩnh vực này tùy thuộc vào tài sản trí tuệ mà trường mình đang có và chính sách thương mại của nhà trường. Trường Đại học Luật TPHCM thành lập Trung tâm Sở hữu trí tuệ do ngoài việc phục vụ công tác quản lý, đào tạo, nghiên cứu, nhà trường còn hướng tới phục vụ xã hội như cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo,… Nhưng đối với những trường nếu không khai thác thương mại từ tài sản trí tuệ thì chỉ cần thành lập bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ.

ThS. Nguyễn Thị Huyền – Trưởng phòng Thanh tra – Pháp chế – Sở hữu trí tuệ Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM cho rằng, hoạt động quản trị tài sản trí tuệ ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay còn chưa đồng bộ giữa các trường, chưa được tổ chức bài bản, có hệ thống do nhiều nguyên nhân. Đó là các trường chưa nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ, lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này, nhân lực không đủ số lượng và trình độ còn hạn chế,…

Vì vậy, để hoạt động quản trị tài sản trí tuệ trong các trường đại học có hiệu quả, cần có cơ chế nhằm đảm bảo sự an toàn thông tin, ghi nhận và phân định vấn đề sở hữu các tài sản trí tuệ, cơ chế khai thác và phân chia lợi ích khi khai thác các tài sản trí tuệ hiện tại và tài sản trí tuệ có khả năng hình thành trong tương lai khi hợp tác nghiên cứu,…Các trường cần xây dựng quy chế quản lý về sở hữu trí tuệ cũng như ban hành các quy định trong thẩm quyền nhằm ngăn ngừa các hành vị xâm phạm quyền tác giả và đưa ra các chế tài đối với hành vi này. Ngoài ra, cần thành lập bộ phận chuyên trách hoặc cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ, cũng như đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền về pháp luật sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nhà trường cũng như các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ giảng viên, nhà khoa học để trang bị kiến thức cũng như nhận thức cho đội ngũ này về sở hữu trí tuệ.

Chuyên mục
Tin tức

Tài sản trí tuệ là gì ?

Tài sản trí tuệ (TSTT) là những tài sản thu được từ các hoạt động trí tuệ, như các sản phẩm về khoa học kỹ thuật, các ý tưởng sáng tạo, bí quyết kinh doanh, các tác phẩm văn học nghệ thuật, phần mềm máy tính, giống cây trồng mới, sáng chế …

Tài sản trí tuệ thuộc loại tài sản vô hình, hình thành và phát triển trong quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. TSTT cũng bao gồm như: nguồn nhân lực, cấu trúc tổ chức (quy trình, biểu mẫu, quy chế …) và các mối quan hệ của doanh nghiệp (tập khách hàng, đối tác…). Mỗi yếu tố đều có vai trò quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của doanh nghiệp.

Tài sản trí tuệ là gì

Có thể phân chia các tài sản trí tuệ dựa vào nguồn gốc phát sinh thành các nhóm sau đây:

  1. Các tài sản trí tuệ mang bản chất khoa học kỹ thuật, gồm:

Các thông tin – bí quyết kỹ thuật, các sáng chế, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, các bản vẽ, bản thiết kế, công thức, dữ liệu tính toán, dữ liệu thử nghiệm, phần mềm máy tính, cơ sở dữ liệu, công trình nghiên cứu, đồ án quy hoạch, sơ đồ bố trí/sắp xếp; giống cây trồng…

  1. Các tài sản trí tuệ là sản phẩm sáng tạo văn học, nghệ thuật, gồm:

Các tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm điện ảnh, các cuộc biểu diễn, chương trình phát sóng, các bản ghi âm/ghi hình…

  1. Các tài sản trí tuệ là sản phẩm sáng tạo trong hoạt động kinh doanh, gồm:

Bí mật thương mại, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ, tên miền, …

Rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã nhận biết, bảo vệ, khai thác và phát triển tốt tài sản sở hữu trí tuệ, mang lại lợi nhuận ngày càng cao, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển bền vững. Theo báo cáo phân tích của Tổ chức AIAF cách đây hơn 10 năm, thì tỷ lệ tài sản vô hình (chủ yếu là tài sản trí tuệ) trên tổng giá trị tài sản của một số doanh nghiệp hàng đầu chiếm từ 69 – 89%, riêng phần giá trị của nhãn hiệu từ 29,97 đến 69,64 tỉ đôla.

thiết kế website thiết kế phần mềm tư vấn online marketing cung cấp đèn trần led cung cấp đèn tuýt led đèn led nội thất thiết kế website giá rẻ thiết kế website giá rẻ thiết kế banner giá rẻ thiết kế logo giá rẻ dịch vụ seo website giá rẻ tư vấn sở hữu trí tuệ đăng ký nhãn hiệu đăng ký quyền tác giả đăng ký sáng chế đăng ký kiểu dáng công nghiệp thiết lập hệ thống quản trị tài sản trí tuệ