facebook

CREATION IS BOURDARLESS

Đăng ký bảo hộ thương hiệu - Nhãn hiệu
Bản quyền tác giả - Sáng chế - Kiểu dáng - Logo
Tư vấn Quản trị tài sản trí tuệ - Hotline : 0906 316 450

brand-register
Chuyên mục
Tin tức

Quản trị Tài sản trí tuệ: Doanh nghiệp, viện trường còn gặp nhiều vướng mắc

Việc phát triển các tài sản trí tuệ trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao giá trị của các doanh nghiệp, viện trường ở Việt Nam nhưng các doanh nghiệp, viện trường đang gặp không ít vướng mắc trong việc tạo dựng, bảo hộ và thương mại hóa loại tài sản đặc biệt này.

Tài sản trí tuệ (TSTT) – vốn được bảo hộ bởi quyền sở hữu trí tuệ (ở Việt Nam bao gồm quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp…) có vai trò rất quan trọng vào sự phát triển của các doanh nghiệp. Theo khảo sát của Viện Khoa học Sở hữu trí tuệ (VIPRI), cứ 1 đơn vị TSTT gia tăng sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh tăng lên gấp 10 lần. Bên cạnh việc kích thích tăng trưởng kinh tế, việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ còn góp phần khuyến khích đổi mới sáng tạo (ĐMST) và tạo môi trường cạnh tranh, công ăn việc làm cho xã hội. Trong bối cảnh tự động hóa, trao đổi dữ liệu dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình sản xuất, việc phát triển các TSTT trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao giá trị của các doanh nghiệp, viện, trường ở Việt Nam.

Vinatex là một trong những đơn vị đang cần phát triển hệ thống quản trị tài sản trí tuệ.
Vinatex là một trong những đơn vị đang cần phát triển hệ thống quản trị tài sản trí tuệ.

 

Mặc dù có nhiều lợi ích như vậy, nhưng đóng góp của các ngành công nghiệp có sử dụng sáng chế và thâm dụng tài sải trí tuệ được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng. Và các doanh nghiệp, viện trường đang gặp không ít khó khăn trong việc tạo dựng, bảo hộ và thương mại hóa loại tài sản đặc biệt này.

Số liệu năm 2010 chỉ ra 32 ngành công nghiệp có sử dụng sáng chế đóng góp 23,79% vào GDP cả nước và tạo ra khoảng 6,4 triệu việc làm, trong đó các ngành thâm dụng TSTT chỉ đóng góp khoảng 4,42% – con số này thực sự rất khiêm tốn so với những nước phát triển ở EU có các ngành thâm dụng TSTT đóng góp 39% tổng GDP, theo báo cáo của Văn phòng Sáng chế châu Âu EPO. Thậm chí, “chúng ta cũng cần thận trọng với những kết quả của Việt Nam nói trên bởi phần lớn công nghệ đang sử dụng là của nước ngoài trong khi thực lực đóng góp của người Việt là rất ít hoặc không đóng góp” – TS Nguyễn Hữu Cẩn, Phó Viện trưởng Viện VIPRI, nhận xét trong hội thảo “Quản trị tài sản trí tuệ đối với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0” do Cục Sở hữu trí tuệ và Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao Hòa Lạc (HBI) tổ chức ngày 7/12.

Trong khi đó, các doanh nghiệp lại chưa sở hữu nhiều sáng chế. Theo số liệu cơ cấu TSTT của doanh nghiệp từ 2011-2015 của VIPRI, các sáng chế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ – khoảng 1.19% trong khi kiểu dáng công nghiệp chiếm 17.61% và nhãn hiệu chiếm đến 81.2%. Đây là một điểm bất lợi bởi công nghệ là nền tảng chính của cuộc CMCN4, những sáng chế dựa trên công nghệ cần phải là nhân tố chủ đạo trong việc tạo lập giá trị nội lực của doanh nghiệp, viện, trường chứ không thể phụ thuộc quá nhiều vào các TSTT mang tính thương mại như nhãn hiệu, kiểu dáng.

Hệ số mức độ sử dụng sáng chế trung bình trong nước trong giai đoạn 2009 – 2013 chỉ ở mức 3,07. Trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo là xương sống được ưu tiên phát triển của đất nước thì hệ số mức độ sử dụng sáng chế đang ở mức thấp hơn trung bình, tức là những ngành công nghiệp đó ít sử dụng sáng chế và dường như sự phát triển chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh bậc thấp như lao động giản đơn, vốn vay, tài nguyên…Có thể kể đến hàng loạt ngành công nghiệp như vậy: sản xuất phụ tùng ô tô, cấu kiện cơ khí, thép chế tạo, linh kiện nhựa – cao su kỹ thuật, chế biến nông – thủy hải sản, gỗ. Việc sử dụng ít sáng chế trong những ngành công nghiệp này cũng đồng nghĩa với việc chưa phát huy được các lợi thế so sánh bậc cao như công nghệ hiện đại, lao động chất lượng cao, quản trị hiệu quả…

Thêm vào đó, quản trị quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là việc tạo lập và bảo vệ các sáng tạo mà doanh nghiệp còn phải tìm ra cơ hội tốt nhất trên thị trường để khai thác các kết quả đó. Sở hữu trí tuệ có thể dẫn đến lợi nhuận từ việc tăng giá trị sản phẩm, phí bản quyền, cho thuê, nhượng quyền, bán, tham gia cổ phần và những hoạt động đầu tư sinh lợi khác. Khó khăn mà các doanh nghiệp, viện, trường Việt Nam đang vấp phải không chỉ ở việc có ít các TSTT như đã phân tích, mà còn ở chỗ chưa coi trọng khai thác giá trị thương mại của TSTT đó.

Theo các ý kiến nhận xét tại Hội thảo, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa hiện chưa coi TSTT là tài sản quan trọng trong hệ thống kế toán và định giá doanh nghiệp, đồng thời cũng không đưa nó vào chiến lược kinh doanh một cách cụ thể, khiến tỷ trọng lợi nhuận từ TSTT trong tổng doanh thu không cao. Có một số doanh nghiệp, viện trường lớn đang “cho không” các đối tác và công ty thành viên sử dụng miễn phí các TSTT của họ như logo thương hiệu, tài liệu quảng cáo, thậm chí là cả kết quả nghiên cứu, do họ không có cơ chế định giá và thỏa thuận thương mại cho các tài sản vô hình này.

Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) là một ví dụ điển hình phải đối mặt với những khó khăn của việc quản lý TSTT. Được cổ phần hóa từ năm 2015, hiện nay Vinatex có khoảng gần 120 công ty con, công ty liên kết và các đơn vị nghiên cứu đào tạo; chuyên về lĩnh vực dệt may-thời trang. ThS. Nguyễn Thanh Ngân, Ban Kỹ thuật Đầu tư Vinatex, cho biết một số công ty thành viên của Vinatex đã nhận thấy tầm quan trọng của việc đăng ký quyền sở hữu trí tuệ từ rất sớm như công ty May 10 (1992), các đơn vị chủ yếu đăng ký nhãn hiệu tại thị trường trong nước và có 1 số ít đăng ký bảo hộ tại nước ngoài như Phong Phú, Việt Tiến, May 10…

Tuy nhiên, về tổng thể, các đơn đăng ký vẫn chủ yếu tập trung vào logo của đơn vị và sản phẩm may mặc; trong khi chưa quan tâm nhiều đến đăng ký nhãn hiệu của sợi và vải, và cũng chưa có đơn đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp (hoa văn, thiết kế) hay sáng chế (chất liệu, quy trình sản xuất). Bà Ngân nhận xét, các công ty may mặc dường như “quên mất” vấn đề sở hữu trí tuệ, bản thân Vinatex cũng nhận thấy mặc dù thuộc “Top 50 Thương hiệu hàng đầu Việt Nam về Tài sản vô hình và Giá trị thương hiệu” do Brand Finance thực hiện năm 2017, nhưng họ chưa định giá được giá trị thương hiệu của mình (không có số liệu) như các tập đoàn Viettel, Vinamilk hay Việt Tiến. Bên cạnh đó, Vinatex cũng chưa sử dụng các phương thức khai thác quyền SHTT như nhượng quyền, cho thuê,… khiến tập đoàn bị bỏ phí “một lượng không nhỏ doanh thu”.

Ngược lại, không ít doanh nghiệp Việt Nam tạo lập được TSTT có giá trị lớn lại phải đối mặt với xu hướng dịch chuyển tài sản – mà chủ yếu là nhãn hiệu – cho các tập đoàn nước ngoài. Điều này mặc dù đem lại lợi ích tài chính nhưng doanh nghiệp phải chịu rủi ro về việc mất thị trường, suy giảm giá trị TSTT và lệ thuộc vào bên mua. Theo thống kê, phần lớn các lĩnh vực có nhiều giao dịch chuyển nhượng đều là những ngành thiết yếu như thuốc, hóa chất, mỹ phẩm dược liệu, lương thực, thực phẩm, thiết bị điện… trong đó đối tượng bên mua thường là các tập đoàn lớn từ châu Á và châu Âu.

Song song với doanh nghiệp, viện, trường cũng là những đơn vị có tiềm năng tạo ra và sử dụng các TSTT nhưng chính các viện, trường lại bị vướng mắc ở chỗ mặc dù có kết quả nghiên cứu rất có giá trị, họ hầu như không có bộ phận chuyên trách để đăng ký bảo hộ, tư vấn hướng dẫn bảo đảm quyền lợi cho những người nghiên cứu và quản trị các TSTT đó, dẫn đến việc chuyển giao công nghệ từ viện, trường gặp không ít khó khăn. Đại học Y dược TP.HCM là một trong những cơ sở hàng đầu về nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật điều trị bệnh và điều chế thuốc. Theo trao đổi tại hội thảo, đại diện trường cho biết đang trong bước đầu xây dựng bộ phận chuyển giao công nghệ nhưng gặp khó khăn trong việc định hướng, xác lập những đối tượng để đăng ký bảo hộ và cân nhắc liệu có cần phải sử dụng một đơn vị tư vấn bên ngoài không bởi liên quan đến tính bảo mật của công nghệ và những đòi hỏi hiểu biết về chuyên môn y dược.

Theo số liệu cơ cấu TSTT của doanh nghiệp từ 2011-2015 của VIPRI, các sáng chế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 1.19% trong khi kiểu dáng công nghiệp chiếm 17.61% và nhãn hiệu chiếm đến 81.2%.

Ngô Hà

Nguồn:

Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM

https://dost.hochiminhcity.gov.vn/tin-tuc-khcn/quan-tri-tai-san-tri-tue-doanh-nghiep-vien-truong-con-gap-nhieu-vuong-mac/

Chuyên mục
Tin tức

Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp

(Khoa học) – Doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay thương mại dù ít hay nhiều đều liên quan đến sở hữu trí tuệ.

Trước tiên là tên thương mại (theo Luật doanh nghiệp còn được hiểu là tên doanh nghiệp đăng ký kinh doanh) được hình thành và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp khi doanh nghiệp sử dụng tên của mình vào sản xuất kinh doanh mà không cần đăng ký theo cơ chế sở hữu trí tuệ.

Tiếp đến là bí mật kinh doanh (bí quyết kỹ thuật và bí mật thương mại) hầu như doanh nghiệp nào cũng có, vấn đề là các thông tin đó có được bảo mật bằng các biện pháp hữu hiệu hay không để được hưởng quyền sở hữu công nghiệp theo Luật Sở hữu trí tuệ. Còn lại các đối tượng khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thì doanh nghiệp phải đăng ký với Nhà nước thì mới được bảo hộ.

Rõ ràng việc đầu tư để tạo dựng, đăng ký, sử dụng, phát triển và bảo vệ các tài sản trí tuệ (còn được gọi là quản trị) là hết sức cần thiết đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, nhất là khi các tài sản trí tuệ ngày càng trở lên quan trọng đối với mỗi nền kinh tế và doanh nghiệp trong xu thế hội nhập sâu rộng như hiện nay. Vấn đề đặt ra là, việc quản trị các tài sản trí tuệ được thực hiện như thế nào, làm cách nào để có hiệu quả nhất giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là những nội dung mà doanh nghiệp cần lưu  tâm.

Việc đầu tiên của quản trị tài sản trí tuệ mà doanh nghiệp cần làm, đó là thống kê, đánh giá và phân loại các tài sản trí tuệ hiện có trong doanh nghiệp. Việc thống kế các tài sản trí tuệ cần được thực hiện dựa theo bản chất (nội hàm) và quy định của pháp luật đối với từng đối tượng.

Nếu tài sản trí tuệ là các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp thì có thể thuộc một trong hai loại sau: loại thứ nhất gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp được xác lập không cần đăng ký, như tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng; loại thứ hai gồm các đối tượng mà quyền sở hữu công nghiệp chỉ được xác lập thông qua đăng ký, như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu.

Với tên thương mại và bí mật kinh doanh thì doanh nghiệp phải xem xét hiện trạng pháp lý của các đối tượng đó có thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ không.

Cụ thể là, xem các tên thương mại hiện có của doanh nghiệp có đáp ứng được tính phân biệt giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực và địa bàn kinh doanh và đã được sử dụng trên thực tế chưa. Khi thỏa mãn hai điều kiện trên đây thì tên thương mại của doanh nghiệp sẽ được Nhà nước bảo hộ.

Còn với bí mật kinh doanh thì xem các thông tin liên quan đến bí quyết kỹ thuật (các know-how) hay bí mật về thương mại (phương án sản xuất, kinh doanh, danh sách khách hàng…) hiện có của doanh nghiệp có được bảo mật không. Nếu các thông tin đó đã và đang được doanh nghiệp bảo mật thì sẽ được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Với các đối tượng sở hữu công nghiệp quyền được xác lập thông qua đăng ký như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…thì doanh nghiệp cần xác định xem thực trạng các đối tượng đó ra sao: Hiện doanh nghiệp có bao nhiêu sáng chế, sáng chế nào đã đăng ký và được cấp Bằng độc quyền, sáng chế nào chưa đăng ký. Tương tự như vậy, cũng xác định xem doanh nghiệp có bao nhiêu nhãn hiệu, bao nhiêu kiểu dáng công nghiệp, cái nào đã đăng ký và cái nào chưa đăng ký.

Tiếp theo việc thống kê, đánh giá các đối tượng, doanh nghiệp cần thực hiện việc đăng ký các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mà doanh nghiệp chưa đăng ký.

Về nguyên tắc, Nhà nước chỉ cấp một văn bằng bảo hộ cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu nào thỏa mãn tiêu chuẩn bảo hộ nhưng nộp đơn sớm nhất (kể cả đơn của người nước ngoài). Vì vậy khi thực hiện đăng ký, doanh nghiệp cần phải đánh giá khả năng bảo hộ từng đối tượng.

Nếu đăng ký sáng chế, thì phải xem các sáng chế đó còn mới không (chưa bộc lộ ở đâu cả), có trình độ sáng tạo không (so với trình độ hiện tại đã biết thì sáng chế đó có bước tiến mới về mặt công nghệ không) và sáng chế có khả năng áp dụng không (tính khả thi).

Với kiểu dáng công nghiệp cũng tương tự như sáng chế. Còn đối với nhãn hiệu, thì có phải là những dấu hiệu (chữ, hình, hay kết hợp cả hai) do doanh nghiệp tự đặt, tự thiết kế ra chứ không phải đi sao chép, đánh cắp của người khác và các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác.

Để đánh giá về tính mới của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hay khả năng phân biệt của nhãn hiệu, doanh nghiệp có thể thực hiện việc tra cứu các thông tin liên quan tại kho dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ lưu giữ, trên internet… hoặc nhờ các chuyên gia giúp đỡ. Khi các thông tin liên quan có cơ sở khẳng định rằng các đối tượng trên có khả năng bảo hộ cao thì doanh nghiệp hãy tiến hành đăng ký và đăng ký càng nhanh càng tốt để dành ngày sớm nhất (ngày ưu tiên); còn nếu các thông tin cho thấy khả năng đăng ký là bất lợi vì khó lòng được bảo hộ thì không nên đăng ký vì chỉ thêm tốn tiền và mất thời gian mà thôi.

Khi các đối tượng sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp đã được Nhà nước bảo hộ (được cấp bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hay có được tên thương mại, bí mật kinh doanh đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ) thì doanh nghiệp phải tổ chức việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các đối tượng đó nhằm bù đắp những chi phí nghiên cứu,  đăng ký và rồi kiếm lời do cơ chế độc quyền mang lại.

Nếu chỉ đăng ký mà không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả thì việc đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp trở nên vô nghĩa, thậm chí còn lãng phí và tốn kém không đáng có. Việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có thể do chính doanh nghiệp thực hiện hoặc ủy quyền cho doanh nghiệp khác tiến hành dưới hình thức li xăng (bán quyền sử dụng) nhưng phải thông qua hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng li xăng) để tránh trường hợp người nhận chiếm đoạt luôn đối tượng dẫn đến khó đòi.

Ví dụ về li xăng, chủ sở hữu sáng chế “Lon có khuyên kéo” bán quyền sử dụng (li xăng) cho CocaCola với giá 148.000 bảng Anh/mỗi ngày. Nếu việc sử dụng không có hiệu quả thì doanh nghiệp có thể tiến hành bán đứt (chuyển giao quyền sở hữu) để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra, như P/S bán 5 triệu USD năm 1986. Tiếp đến, doanh nghiệp cần chủ động và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chống lại những hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình, nhằm bảo vệ quyền đối với các tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ.

Để thực hiện các công đoạn nhằm quản trị tốt các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp được phân tích trên đây, doanh nghiệp có thể tự làm trên cơ sở tổ chức bộ phận (chuyên gia) chuyên trách về sở hữu trí tuệ nhằm chủ động quản trị, hoặc thuê các văn phòng luật sư (luật sư) thực hiện quản trị thông qua hợp đồng thuê quản trị tài sản trí tuệ mà nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã triển khai có hiệu quả từ lâu.

Chuyên mục
Tin tức

Quản trị tài sản trí tuệ trong trường đại học, cao đẳng: Thực trạng và giải pháp

Đây là nội dung của buổi Tọa đàm được Sở KH&CN TPHCM tổ chức ngày 16/5. Ông Nguyễn Khắc Thanh – Phó Giám đốc Sở KH&CN TPHCM mong muốn các trường đại học, cao đẳng chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn, đưa ra những ý kiến đóng góp, đề xuất kiến nghị, giải pháp để Sở KH&CN TPHCM làm cơ sở xây dựng những cơ chế, chính sách thúc nhằm đẩy hoạt động quản trị tài sản trí tuệ có hiệu quả hơn.

Trường đại học, cao đẳng là nơi sử dụng nhiều đối tượng SHTT, cũng là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động sáng tạo, kinh doanh. Nhưng PGS.TS. Lê Thị Nam Giang – Giám đốc Trung tâm SHTT Trường ĐH Luật TPHCM cho biết, hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng chưa xây dựng được bộ phận, cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ. Vì vậy công tác tư vấn cho nhà trường và các nhà khoa học trong việc xác định các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể được bảo hộ đối với kết quả nghiên cứu chưa được thực hiện tốt. Ngoài ra, nhiều giảng viên chưa được trang bị tốt kiến thức về sở hữu trí tuệ dẫn đến hệ lụy là nhiều tài sản trí tuệ chưa được xác lập quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa có được phương án tối ưu trong xác lập quyền. số lượng tài sản trí tuệ được xác lập quyền từ hoạt động nghiên cứu hiện nay ở các trường đại học chưa tương xứng với kết quả nghiên cứu, tiềm năng của trường, việc khai thác thương mại từ quyền sở hữu trí tuệ chưa cao, vấn đề quản trị tài sản trí tuệ chưa được coi trọng ở các trường đại học.

Theo bà Giang, mỗi một trường đại học, cao đẳng có thể thành lập Trung tâm sở hữu trí tuệ, bộ phận chuyên trách hoặc các bộ chuyên trách về lĩnh vực này tùy thuộc vào tài sản trí tuệ mà trường mình đang có và chính sách thương mại của nhà trường. Trường Đại học Luật TPHCM thành lập Trung tâm Sở hữu trí tuệ do ngoài việc phục vụ công tác quản lý, đào tạo, nghiên cứu, nhà trường còn hướng tới phục vụ xã hội như cung cấp các dịch vụ tư vấn, đào tạo,… Nhưng đối với những trường nếu không khai thác thương mại từ tài sản trí tuệ thì chỉ cần thành lập bộ phận hoặc cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ.

ThS. Nguyễn Thị Huyền – Trưởng phòng Thanh tra – Pháp chế – Sở hữu trí tuệ Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM cho rằng, hoạt động quản trị tài sản trí tuệ ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay còn chưa đồng bộ giữa các trường, chưa được tổ chức bài bản, có hệ thống do nhiều nguyên nhân. Đó là các trường chưa nhận thức được tầm quan trọng của sở hữu trí tuệ, lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này, nhân lực không đủ số lượng và trình độ còn hạn chế,…

Vì vậy, để hoạt động quản trị tài sản trí tuệ trong các trường đại học có hiệu quả, cần có cơ chế nhằm đảm bảo sự an toàn thông tin, ghi nhận và phân định vấn đề sở hữu các tài sản trí tuệ, cơ chế khai thác và phân chia lợi ích khi khai thác các tài sản trí tuệ hiện tại và tài sản trí tuệ có khả năng hình thành trong tương lai khi hợp tác nghiên cứu,…Các trường cần xây dựng quy chế quản lý về sở hữu trí tuệ cũng như ban hành các quy định trong thẩm quyền nhằm ngăn ngừa các hành vị xâm phạm quyền tác giả và đưa ra các chế tài đối với hành vi này. Ngoài ra, cần thành lập bộ phận chuyên trách hoặc cán bộ chuyên trách về sở hữu trí tuệ, cũng như đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền về pháp luật sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nhà trường cũng như các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ giảng viên, nhà khoa học để trang bị kiến thức cũng như nhận thức cho đội ngũ này về sở hữu trí tuệ.

thiết kế website thiết kế phần mềm tư vấn online marketing cung cấp đèn trần led cung cấp đèn tuýt led đèn led nội thất thiết kế website giá rẻ thiết kế website giá rẻ thiết kế banner giá rẻ thiết kế logo giá rẻ dịch vụ seo website giá rẻ tư vấn sở hữu trí tuệ đăng ký nhãn hiệu đăng ký quyền tác giả đăng ký sáng chế đăng ký kiểu dáng công nghiệp thiết lập hệ thống quản trị tài sản trí tuệ